HẠT MÃ ĐỀ


ị thuốc lợi niệu tiêu phù từ hạt mã đề

Hạt mã đề – tên thuốc gọi là xa tiền tử, là hạt của cây mã đề, thuộc loài cỏ sống lâu năm, có ở khắp nơi trên đất nước ta từ đồng bằng đến trung du, miền núi. Xa tiền tử thu hoạch vào khoảng tháng 7 - 8 khi quả chín già, đem nhổ cây vAứng thấp nhiệt gây đái buốt, đái rắt, thủy thũng, phù nề, vàng da. Chữa ho, thông đờm trong viêm phế quản, các bệnh tả lỵ, bệnh đau mắt đỏ, nhức mắt, nước mắt chảy nhiều.

DỄ CÂY GAI


Thuốc an thai từ rễ cây gai

Rễ gai thu hái vào mùa hạ hoặc mùa thu, rửa sạch, cắt bỏ rễ con, thái phiến mỏng, phơi hoặc sấy khô có thể dùng như một vị thuốc an thai hiệu quả.

Dược liệu có hình trụ tròn, hơi cong, dài 5 - 10cm, đường kính 0,5 - 1,5cm, vỏ ngoài màu nâu xám, có những nếp nhăn và nhiều mấu lồi. Thể nhẹ, chất chắc, vết bẻ có xơ, màu vàng, vị ngọt nhạt, hơi đắng, không mùi, nhấm hơi dính, tính mát, có tác dụng an thai, thường được dùng phối hợp với các vị thuốc khác theo công thức sau: 

HOA PHÙ DUNG


Chữa viêm tuyến vú bằng hoa phù dung

Phù dung là loại cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi để làm cảnh, tên khoa học là Hibiscus mutabilis L., trong dân gian còn gọi là mộc liên, địa phù dung, tam biến hoa, thất tinh hoa, sương giáng hoa, túy tửu phù dung, đại diệp phù dung...

Theo y học cổ truyền, hoa phù dung vị cay, tính bình, có công dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết, chỉ huyết (làm mát huyết và cầm máu), tiêu thũng chỉ thống, thông kinh hoạt huyết, bài nùng; dùng để chữa các chứng bệnh như ung thũng, mụn nhọt lở loét, bỏng, ho do phế nhiệt, thổ huyết, băng lậu, bạch đới... Một số cách dùng cụ thể như sau:

HOÀI SƠN - THẢO DƯỢC QUÝ


Hoài sơn - dưỡng vị sinh tân

Củ mài (dioscorea persimilis Brain et Burkill) có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là đối với đồng bào các dân tộc miền núi trong thời kỳ giáp hạt. Củ mài được chế biến thành hoài sơn lại là vị thuốc phổ biến trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian.
Theo Đông y hoài sơn có vị ngọt không mùi, tính bình không độc là thuốc bổ mát có tác dụng dưỡng vị sinh tân, ích phế bổ thận, chỉ khát chữa tỳ vị suy nhược, nóng sốt khát nước, mồ hôi trộm, đi tiểu nhiều, ăn khó tiêu, đau dạ dày, viêm ruột, đái tháo đường, mụn nhọt, kiết lỵ lâu ngày, di tinh, bạch đới. Dạng dùng thông thường là thuốc sắc hay thuốc bột với liều 20-30g một ngày cho người lớn, trẻ em tùy tuổi uống ít hơn. Dùng riêng hoặc phối hợp với nhiều vị thuốc khác. Các bài thuốc có dùng hoài sơn.

TINH DẦU THIÊN NHIÊN TRỊ MỤN - PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ TOÀN DIỆN


Theo YHCT, bệnh trứng cá là một loại bệnh chủ yếu phát ra ở mặt, chủ yếu biểu hiện ở các tuyến nang lông có tên gọi: tòa ế, phân thích,khâu chẩn. Nguyên nhân bệnh trứng cá chủ yếu là do tố thể người bệnh như thậnâm bất túc, âm dương thất điều, tướng hỏa quá vượng, thêm vào đó, do hậu thiênăn uống không điều độ hoặc mạch xung nhâm bất điều, hỏa nhiệt của phế vị bốclên mặt mà dẫn đến huyết nhiệt uất phát ra bệnh.
1.Bài thuốc dạng cây cỏ
Nếu mụn trứng cá màu hồng, gồ lên, khi vỡ chảy nước nhờn, hồng, các ngày sau kết rắn đanh, miệng khô, tâm phiền (buồn bực), di tinh (với bệnh nhân nam), rối loạn kinh nguyệt (với bệnh nhân nữ), mất ngủ, ngủ hay mộng mị, đại tiện táo kết, tiểu tiện ít, nước tiểu đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch sác. Bài thuốc: tri mẫu 12g, bồ công anh 15g, hoàng bá 12g, liên kiều 15g,nữ trinh tử 20g, sinh địa hoàng 15g, hạn liên thảo 20g, đan sâm 15g, ngư tinhthảo 20g, cam thảo 5g. Sắc uống.
bo cong anh Bài thuốc nam trị mụn trứng cá
Cây bồ công anh
Gia giảm: Nếu đại tiện bí kết không thông, gia đại hoàng 15g(cho sau), tử thảo 15g, chỉ thực 12g để thông phủ tả nhiệt; nếu đại tiện phânnát, bỏ đại hoàng, gia thổ phục linh 15g, nhân trần 15g để lợi thấp, thanhnhiệt giải độc; mất ngủ, gia hợp tiên bì 15g, phục linh 20g; phế vị hỏa nhiệt,gia sinh thạch cao 20g, địa cốt bì 15g.
Nếu mụn trứng cá hồng sẫm, cứng, mọng nước, có những mụn cóchất nhày màu xám lõm xuống hoặc lồi lên, tâm phiền, đa mộng (ngủ hay mộngmị), đại tiện táo, lưỡi có khi tím bầm, có điểm ứ huyết hoặc vàng bệu, mạch khẩn hoặc tế sác.
Bài thuốc: đào nhân 15g, hạn liên thảo 20g, hồng hoa 5g, bồ công anh 15g, sinh địa 20g, bối mẫu 12g, xích thược 5g, miết giáp 12g, nữ trinh tử 20g, cam thảo 4g, xuyên sơn giáp 10g, đan sâm 20g.
Nếu mụn trứng cá liên quan tới kỳ kinh, số lượng có thể nhiều hoặc ít nhưng sự xuất hiện của mụn có quan hệ rõ ràng đến chu kỳ kinh nguyệt. Trước chu kỳ kinh, mụn trứng cá nhiều; sau chu kỳ kinh, mụn trứng cá thường ít hơn.
Bài thuốc: nữ trinh tử 20g, hương phụ 12g, hạn liên thảo20g, sơn tra 20g, tri mẫu 10g, đan sâm 15g, sài hồ 12g, trạch tả 12g, bạch thược 15g, ích mẫu 15g, phục linh 15g, cam thảo 3g. Sắc uống.
cay ich mau Bài thuốc nam trị mụn trứng cá
Ích mẫu
Gia giảm: Nếu kinh nguyệt trước kỳ, lượng nhiều, bỏ đan sâm,gia sinh địa 15g, tăng ích mẫu lên 30g. Kinh nguyệt sau kỳ, tăng đan sâm lên20g và gia vương bất lưu hành 15g.
Thuốc dùng ngoài:
Dùng hoa, lá và cành của cây kim ngân giã tươi vắt lấy nước 1 bát sắc lấy 8 phần mà uống, còn bã đắp vào rất công hiệu.
Nếu da nhiều chất nhờn, bóng thì làm mặt nạ bằng cà chua: Cà chua nghiền nhỏ vắt lấy nước hòa với một ít nước chanh đem xoa đều lên mặt, làm như vậy một thời gian, da mặt giữ được độ khô ráo và làm sạch trứng cá.
2.Bài thuốc tinh dầu thiên nhiên trị mụn
tinh dầu thiên nhiên trị mụn
Tinh dầu thiên nhiên trị mụn

Thành phần: Tinh dầu nha đam,tinh dầu nghệ,tinh chất nhân sâm...
Tác dụng: Điều trị triệt để mụn trứng cá và vết thâm do nặn mụn
Cách dùng: Xoa trực tiếp lên mặt ngày từ 1 đến 2 lần ,kết hợp với trà điều hòa nội tiết bên trong
Tinh dầu thiên nhiên trị mụn hiện được coi là bài thuốc an toàn và hiệu quả nhất trong việc điều trị và ngăn ngừa mụn trứng cá tại Việt Nam
(Sức khỏe đời sống)

CÔNG DỤNG CỦA RAU DIẾP CÁ

Rau dấp cá còn có tên khác là diếp cá, ngư tinh thảo. Tên khoa học là Houltuynia cocdata Thunb, thuộc họ Saururaceae. Theo Đông y, dấp cá có mùi tanh, tính mát.


Tác dụng giải nhiệt chống viêm, lợi tiểu, điều hòa kinh nguyệt, giảm đau, chỉ khái... Được dùng tươi hoặc sấy khô dưới dạng thuốc sắc. Lá vò nát thêm nước để uống hoặc giã nhỏ đắp tại chỗ trị mụn nhọt áp-xe... 
Dấp cá được dùng riêng hoặc phối hợp cùng những vị khác. Liều dùng 6 - 12g/ngày (loại khô), 30 - 40g/ngày (loại tươi). Dùng ngoài không kể liều lượng.
Rau diếp cá.

DÂM DƯƠNG HOẮC ĐẶC TRỊ YẾU SINH LÍ

Theo các tài liệu cổ, dược liệu dâm dương hoắc có vị cay, đắng, tính ấm, có tác dụng bổ can, thận, kích thích sinh dục, trợ dương, mạnh gân xương, ích tinh, trừ thấp, chuyên trị bệnh liệt dương. Dâm dương hoắc tên khoa học (Epimadium sp). Đó là một cây thảo, sống nhiều năm, cao 30-40cm. Thân rễ cứng có nhiều rễ con, lá kép mọc từ gốc, gồm 3 lá chét dài 4-9cm, hình tim có 2 tai lệch nhau, đầu thuôn nhọn sắc, mép có lông nhỏ; Cuống lá mảnh dài khoảng 15cm; hoa gồm 8 lá đài xếp thành 2 vòng, lá đài ở vòng ngoài nhỏ, mặt ngoài có đốm tím, lá đài ở vòng trong màu trắng giống như cánh hoa; cánh hoa màu trắng. Quả hạch hình trứng có nhiều hạt. 

Bộ phận dùng làm thuốc của dâm dương hoắc là thân, cành và lá, thu hái vào tháng 6-7 lúc cây mọc xanh tốt và trời râm mát, cắt bỏ rễ, rửa sạch, phơi hay sấy khô. Dùng sống hoặc chế biến như sau:

Mỡ dê (250g) thái nhỏ, đun chảy, vớt bỏ tóp, cho dâm dương hoắc (1kg) đã thái nhỏ vào, đảo đều cho dược liệu thấm hết mỡ. Để nguội mà dùng. Có thể dùng dâm dương hoắc trong những trường hợp sau: